Giá dầu tăng vọt và tình hình thay đổi ở eo biển: tác động ba chiều của logistics toàn cầu đối với giàn khoan dầu quay.
Thời gian phát hành: 03/04/2026
Chi phí vận chuyển tăng vọt, lợi nhuận xuất khẩu bị thu hẹp đáng kể.
Giá dầu quốc tế đã tăng vọt gần 121 tấn chỉ sau một đêm, với cả dầu Brent và dầu Mỹ đều vượt mốc 100 nhân dân tệ. Cùng với kế hoạch của Iran áp đặt phí cầu đường cao đối với eo biển Hormuz, chi phí vận chuyển quốc tế đối với các thiết bị lớn như giàn khoan quay đã tăng mạnh. Chi phí nhiên liệu chiếm khoảng 401 tấn trong tổng chi phí vận chuyển, và sự tăng mạnh của giá dầu đã trực tiếp đẩy phụ phí nhiên liệu đối với các công ty vận tải biển lên cao, dẫn đến chi phí vận chuyển một chuyến tăng từ 201 tấn đến 351 tấn so với trước khi xảy ra xung đột. Đối với giàn khoan quay có trọng lượng trên 50 tấn và cần vận chuyển bằng tàu chở hàng rời chuyên dụng, chi phí... vận chuyển Riêng chi phí đã tăng thêm từ 80.000 đến 120.000 nhân dân tệ mỗi đơn vị. Điều nghiêm trọng hơn nữa là sau khi áp dụng chính sách phí theo bậc thang tại eo biển Hormuz, các thị trường xuất khẩu truyền thống như châu Âu và Mỹ yêu cầu tàu phải trả phí qua lại một lần từ 1,5 đến 2 triệu đô la Mỹ. Mặc dù thiết bị của Trung Quốc được hưởng các ưu đãi đặc biệt, các công ty vận tải biển thường đi đường vòng qua Mũi Hảo Vọng để tránh rủi ro, kéo dài hành trình từ 10 đến 14 ngày và tăng gấp đôi tiền thuê tàu hàng ngày, đẩy chi phí logistics tổng thể lên cao hơn nữa. Giá xuất khẩu buộc phải tăng từ 31.000 đến 81.000 tấn, trực tiếp làm suy yếu khả năng cạnh tranh về giá quốc tế của các giàn khoan xoay trong nước như Sany và XCMG. Một số đơn đặt hàng vừa và nhỏ buộc phải tạm dừng do vượt quá chi phí dự kiến.
Chu kỳ vận chuyển kéo dài và rủi ro giao hàng dự án tăng cao.
Tình hình leo thang ở Trung Đông và việc siết chặt kiểm soát eo biển đã gây ra tắc nghẽn nghiêm trọng trong các tuyến vận tải biển toàn cầu, kéo dài đáng kể chu kỳ giao hàng xuất khẩu giàn khoan xoay. Một mặt, khối lượng giao thông trung bình hàng ngày qua eo biển đã giảm mạnh 951 tấn, với hơn 2.500 tàu bị mắc kẹt ở Vịnh Ba Tư. Hiệu quả hoạt động của cảng giảm hơn 501 tấn, và thời gian bốc xếp thiết bị, thông quan và khởi hành kéo dài từ 3-5 ngày lên 15-20 ngày. Mặt khác, các tuyến vận tải chính vẫn tiếp tục hoạt động. vận chuyển Các công ty đã tạm ngừng các tuyến đường rủi ro và chuyển hướng vòng qua Mũi Hảo Vọng, dẫn đến lượng hàng hóa vận chuyển từ châu Á đến châu Âu và Trung Đông tăng thêm 401 tấn. Chu kỳ vận chuyển ban đầu là 30-35 ngày đã kéo dài lên 45-50 ngày. Giàn khoan xoay chủ yếu được sử dụng cho các dự án móng cọc ở nước ngoài, và việc chậm giao hàng trực tiếp dẫn đến chậm tiến độ xây dựng, đối mặt với rủi ro bị phạt và vi phạm hợp đồng. Đồng thời, việc kéo dài chu kỳ vận chuyển cùng với tình trạng tắc nghẽn cảng đã dẫn đến sự gia tăng các chi phí phát sinh như phí lưu kho thiết bị, phí lưu bãi và phí chuyển tải, dẫn đến chi phí liên quan đến từng thiết bị tăng thêm từ 20.000 đến 30.000 nhân dân tệ, làm giảm thêm biên lợi nhuận.
Chi phí bảo hiểm và an toàn đang tăng lên, và rủi ro trong vận tải đang gia tăng trên diện rộng.
Việc leo thang các xung đột địa chính trị đã dẫn đến sự gia tăng đồng thời chi phí bảo hiểm và an toàn cho vận chuyển quốc tế các giàn khoan quay. Mức độ rủi ro ở vùng biển xung quanh eo biển Hormuz đã tăng lên mức cao nhất, với phí bảo hiểm chiến tranh tàu biển tăng vọt từ 0,251 TP3T giá trị hàng hóa lên 7,51 TP3T. Đối với một... giàn khoan quay Với tổng giá trị 5 triệu nhân dân tệ, riêng phí bảo hiểm chiến tranh đã tăng hơn 360.000 nhân dân tệ. Đồng thời, để tránh rủi ro, các công ty vận tải biển đã áp đặt phụ phí rủi ro cao đối với việc vận chuyển thiết bị tại các khu vực rủi ro cao, đòi hỏi các biện pháp tăng cường bổ sung và vận chuyển riêng biệt, dẫn đến chi phí tháo lắp, đóng gói và nhân công tăng thêm từ 151.000 đến 251.000 nhân dân tệ. Ngoài ra, nguy cơ cướp biển và tấn công tại các khu vực như Trung Đông và Biển Đỏ gia tăng, đòi hỏi các biện pháp như tăng cường hộ tống an ninh và giám sát tuyến đường theo thời gian thực đối với việc vận chuyển thiết bị, dẫn đến chi phí quản lý an ninh liên tục tăng. Dưới sự chồng chất của nhiều rủi ro, một số nhà cung cấp dịch vụ logistics từ chối nhận đơn đặt hàng từ các khu vực rủi ro cao, và các doanh nghiệp xuất khẩu đã giảm đáng kể các kênh vận chuyển sẵn có, làm suy yếu nghiêm trọng tính ổn định của chuỗi cung ứng.
Vận tải đa phương thức bị cản trở, và hiệu quả phân phối nội địa giảm mạnh.
Tác động của giá dầu tăng vọt và xung đột địa chính trị đã lan rộng từ vận tải đường biển sang vận tải đường bộ, gây áp lực toàn diện lên chuỗi vận tải đa phương thức nội địa đối với giàn khoan xoay. Chi phí nhiên liệu chiếm từ 351.000 đến 401.000 nhân dân tệ trong tổng chi phí vận chuyển đường bộ, và sự tăng vọt 121.000 nhân dân tệ của giá dầu trực tiếp dẫn đến sự gia tăng từ 81.000 đến 121.000 nhân dân tệ chi phí vận chuyển đường bộ từ các nhà máy trong nước đến cảng và từ các cảng đích ở nước ngoài đến các công trường xây dựng. Vận chuyển nội địa quãng ngắn một giàn khoan xoay 40 tấn làm tăng chi phí nhiên liệu từ 700 đến 900 nhân dân tệ/chuyến, và chi phí vận chuyển đường bộ xuyên biên giới tăng hơn 10.000 nhân dân tệ. Đồng thời, việc đóng cửa biên giới và kiểm tra an ninh đã được tăng cường ở nhiều quốc gia Trung Đông, và thời gian thông quan cho vận chuyển đường bộ đã kéo dài gấp 3-5 lần. Một số khu vực đã bị gián đoạn do chiến tranh. Hiệu quả của mô hình vận tải đa phương thức, vốn ban đầu dựa vào "vận tải đường biển và đường bộ", đã giảm mạnh, và chu kỳ vận chuyển thiết bị từ cảng đến công trường xây dựng đã tăng gấp đôi. Một số dự án đã bị đình chỉ do thiết bị không thể đến công trường đúng thời hạn, gây ra rủi ro dây chuyền xây dựng.
Việc điều chỉnh chiến lược xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải tái cấu trúc các giải pháp hậu cần.
Đối mặt với áp lực ba chiều về chi phí, thời gian và rủi ro, các doanh nghiệp xuất khẩu giàn khoan xoay buộc phải điều chỉnh toàn diện chiến lược hậu cần và thị trường. Về chi phí, tối ưu hóa kế hoạch tháo dỡ thiết bị bằng cách chia nhỏ và vận chuyển các bộ phận như cột, cần khoan và đối trọng để giảm thể tích và trọng lượng riêng lẻ, tiết kiệm được 101.3T - 151.3T chi phí vận chuyển đường biển và đường bộ. Về vận chuyển, từ bỏ các tuyến đường truyền thống Biển Đỏ và Vịnh Ba Tư và chuyển sang Hành lang Kinh tế Trung Quốc - Pakistan, kênh vận tải đường bộ Trung Quốc - Nga, hoặc quá cảnh qua Đông Nam Á đến châu Âu và Trung Đông, mặc dù làm tăng các điểm trung chuyển, nhưng có thể tránh được rủi ro eo biển và đảm bảo giao hàng đúng thời hạn. Về thị trường, chúng tôi sẽ thu hẹp các đơn đặt hàng từ các khu vực rủi ro cao và tập trung mở rộng sang các thị trường ổn định về mặt địa lý và an toàn về vận chuyển như Trung Á, Mỹ Latinh và châu Phi. Đồng thời, chúng tôi sẽ đàm phán với khách hàng để điều chỉnh chu kỳ giao hàng, chia sẻ chi phí hậu cần mới và ổn định mối quan hệ hợp tác. Lợi nhuận ngắn hạn đang chịu áp lực, nhưng thông qua tối ưu hóa chuỗi cung ứng và tái cấu trúc thị trường, nền tảng được đặt ra cho xuất khẩu ổn định lâu dài.


